Thấy gì sau gần 3 năm triển khai giám sát hành trình

Quy định bắt buộc phải lắp thiết bị giám sát hành trình (GSHT) trên xe vận tải hành khách, hàng hoá được chia thành nhiều giai đoạn, kéo dài từ 2013 đến 2018, đến nay đã đi được một nửa chặng đường.
Thấy gì sau gần 3 năm triển khai giám sát hành trình ảnh 1

Kiểm tra thiết bị GSHT trên một xe khách

Nghị định số 86/2014/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/12/2014, thay thế Nghị định số 91/2009/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2009 và Nghị định số 93/2012/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ, trong đó có thay đổi về thời hạn áp dụng bắt buộc lắp đặt thiết bị giám sát hành trình (GSHT) đến trước ngày 1/7/2018 gần như hoàn tất phổ cập GSHT lên tất cả các phương tiện kinh doanh vận tải (cả hàng hoá lẫn hành khách).

Trước đó, luật đã quy định, xe khách kinh doanh tuyến cố định liên tỉnh không lắp đặt thiết bị GSHT trước 1/7/2013 sẽ bị lực lượng chức năng xử phạt. Như vậy về lý thuyết, công cuộc phổ biến GSHT sẽ có tất cả 5 năm và đến hết năm nay là được gần nửa chặng đường với 4 đối tượng phải lắp thiết bị giám sát. Quá trình sử dụng dữ liệu giám sát gồm có 3 bên: Trung tâm dữ liệu (TTDL), đơn vị cung cấp thiết bị GSHT và doanh nghiệp vận tải (DNVT).

Giai đoạn đầu, số lượng nhà cung cấp thiết bị GSHT lên tới hàng chục đơn vị dẫn đến tình trạng loạn chất lượng, không phù hợp Quy chuẩn Việt Nam (QCVN). Đến nay, chỉ còn hơn chục đơn vị là có sản phẩm hợp QCVN.

Trong báo cáo mới nhất do Tổng cục đường bộ tổng hợp từ các Sở GTVT, doanh nghiệp gửi Bộ GTVT, câu chuyện kết nối về mặt kỹ thuật vẫn còn nhiều khó khăn. Đơn cử như việc sai số tốc độ giữa TTDL và máy chủ các doanh nghiệp vẫn thường xảy ra. Nguyên nhân chủ quan là do phương pháp tính toán khác nhau và có cả nguyên nhân khách quan đến từ yếu tố thời tiết, môi trường. Giải pháp đặt ra là cần có quy định chung về thuật toán một cách thống nhất. Bên cạnh đó, khâu chăm sóc khách hàng của một số đơn vị bán thiết bị còn yếu kém do năng lực có hạn, dẫn đến mất niềm tin cho khách hàng.

Thấy gì sau gần 3 năm triển khai giám sát hành trình ảnh 2

Một thiết bị GSHT đang bán trên thị trường 

Về mặt quản lý nhà nước, khâu thu thập dữ liệu và xử lý từ TTDL ở các Sở GTVT cũng chưa thật hoàn chỉnh, nếu không khắc phục triệt để sẽ làm giảm phần nào kết quả của quá trình “GPS hoá” như đề án đặt ra. Ví dụ như việc kiểm tra một chiếc xe từ dữ liệu chung mà mỗi đơn vị một cách làm khác nhau, gây ra sự không thống nhất (có sở lại kiểm tra trang lộ trình hay thậm chí có sở còn yêu cầu có báo cáo tổng hợp theo lái xe trong khi xe vừa mua, chưa có phù hiệu, chưa chạy gây vô lý, khó khăn cho Doanh nghiệp vận tải (DNVT); Xe đã có thiết bị hợp chuẩn QCVN31.2011, khi đổi biển cấp lại giấy tờ, sở yêu cầu phải lắp mới thiết bị và không cho nâng cấp gây lãng phí cho DNVT… )

Tuy vậy, với những bất cập trên có thể giải quyết được về mặt thời gian và giải pháp đối thoại khắc phục, nhưng khó khăn lớn nhất vẫn đến từ phía DNVT – nhóm người tiêu dùng chính chịu quy định của luật. Qua hơn 2 năm thực hiện quy định lắp GSHT, đến nay nhiều báo cáo cho thấy cần phải tăng cường tuyên truyền, phổ biến với đối tượng này thì khi xử lý vi phạm mới thật sự “tâm phục, khẩu phục”.

Nhiều DNVT tỏ ra thờ ơ trong việc khai thác và bảo hành thiết bị. Có công ty bị phát hiện xe lâu ngày mất tín hiệu GPS nhưng từ chối bảo hành thiết bị hoặc không có bộ phận theo dõi GPS, lắp đối phó... Vẫn còn tình trạng can thiệp vào phần cứng gây gián đoạn tín hiệu của thiết bị GPS như cắt dây, lắp công tắc, cắt angten ....

Thấy gì sau gần 3 năm triển khai giám sát hành trình ảnh 3

Mục tiêu của GSHT là giảm thiểu tai nạn giao thông cũng như quản lý vận tải một cách khoa học hơn

Dù phần lớn các báo cáo đã cho thấy bức tranh chung của quá trình “GPS hoá” còn quá nhiều bất cập nhưng không thể phủ nhận định hướng đúng đắn mà cơ quan quản lý nhà nước đã đề ra. Giai đoạn triển khai kéo dài tới 5 năm và chia ra từng đối tượng đã giúp DNVT có thời gian chuẩn bị, doanh nghiệp bán GSHT cũng có thểm thời gian nâng cấp dịch vụ. Ở vai trò nhà quản lý, thông qua dữ liệu giám sát hành trình, cơ quan quản lý nhà nước (Sở, Bộ) có thể nhìn được bức tranh toàn cảnh về tình hình hoạt động giao thông trên cả nước. Tình trạng xe chạy quá tốc độ, hay các điểm dừng đón tập trung gây ùn ứ được thu thập đầy đủ trên TTDL.

Do GSHT không phải là công nghệ mới mẻ mà đã được áp dụng phổ biến trên thế giới nên khi đem về Việt Nam sẽ có nhiều thuận lợi giúp người dùng đỡ bỡ ngỡ. Thông qua dữ liệu GSHT, doanh nghiệp dễ dàng quản lý vận tải hiệu quả, tiết kiệm chi phí, tiết kiệm thời gian, tăng khả năng điều hành quản lý. Bản thân các lái xe khi đã hiểu về hoạt động của hệ thống GSHT sẽ thúc đẩy nhận thức của họ về việc kiểm soát tốc độ vận hành, giảm được tình trạng chạy quá tốc độ quy định. Đơn giản vì dữ liệu được lưu trữ lâu dài nên lái xe không thể lẩn tránh (như tránh các trạm cảnh sát giao thông). 

 Lộ trình lắp thiết bị GSHT:


+ Trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 đối với xe taxi, xe đầu kéo kéo rơ moóc, sơ mi rơ moóc kinh doanh vận tải;
+ Trước ngày 01 tháng 1 năm 2016 đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa có trọng tải thiết kế từ 10 tấn trở lên;
+ Trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa có trọng tải thiết kế từ 07 tấn đến dưới 10 tấn;
+ Trước ngày 01 tháng 1 năm 2017 đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa có trọng tải thiết kế từ 3,5 tấn đến dưới 07 tấn;
+ Trước ngày 01 tháng 7 năm 2018 đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hàng hóa có trọng tải thiết kế dưới 3,5 tấn.

Đình Quý
(Theo Nghe nhìn Việt Nam)
Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
Nhập mã bảo mật (*)     Refresh
Tin khác